Các mối quan hệ nga-việt

Quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô và Việt Nam được thiết lập ngày 30 tháng 1 năm 1950.

Ngày 27 tháng 12 năm 1991 Việt Nam tuyên bố công nhận Nga là quốc gia tiếp tục Liên Xô.

Trong chuyến thăm chính thức Moscva vào tháng 6 năm 1994 Thủ tướng Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt đã ký Hiệp ước về các cơ sở quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Tháng 11 năm 1997 đã diễn ra chuyến thăm chính thức Hà Nội của Chủ tịch Chính phủ Liên bang Nga V. S. Chernomưrdin, trong khuôn khổ chuyến thăm đã ký Tuyên bố chung về hỗ trợ phát triển hợp tác kinh tế thương mại và khoa học-kỹ thuật giữa hai nước.

Tháng 8 năm 1998 Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương đã thăm chính thức Liên bang Nga. Trong các cuộc hội đàm ở cấp cao hai bên đã khẳng định sự mong muốn tiếp tục phát triển năng động các mối quan hệ song phương theo nhiều hướng, đưa lên tầm quan hệ đối tác chiến lược. Hai nguyên thủ quốc gia đã ký Tuyên bố chung Nga-Việt, trong đó xác định các phương hướng cơ bản phối hợp hành động của các bên trong tương lai. Trong chuyến thăm cũng đã ký Hiệp định về tương trợ tư pháp và các mối quan hệ pháp lý về dân sự và hình sự, một loạt các văn kiện liên ngành.

Tháng 9 năm 2000 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phan Văn Khải đã thăm chính thức Nga. Đã thảo luận các vấn đề cấp bách trong hợp tác song phương, trước hết trong lĩnh vực kinh tế-thương mại. Qua các cuộc hội đàm đã ký các hiệp định liên Chính phủ về giải quyết nợ của Việt Nam vay trước đây trước Nga, về hợp tác liên khu vực, về hợp tác trong lĩnh vực kiểm dịch và bảo vệ cây trồng.

Từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3 năm 2001 đã diễn ra chuyến thăm chính thức Hà Nội của Tổng thống Liên bang Nga V. V. Putin – chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên của người đứng đầu nhà nước Nga. Mục đích chính của chuyến thăm là xác định các phương hướng chiến lược phát triển các mối quan hệ Nga-Việt trong thế kỷ XXI. Đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược, nghị định thư liên chính phủ về việc rà soát cơ sở điều ước-pháp lý và hiệu lực các hiệp ước và hiệp định song phương, các văn kiện về mở rộng hợp tác trong lĩnh vực khai thác dầu khí, phối hợp hành động trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, trong lĩnh vực liên ngân hàng.

Ghi nhận vai trò then chốt của lĩnh vực dầu khí, những người đứng đầu hai nhà nước còn xác định các phương hướng hợp tác kinh tế có triển vọng nhất là năng lượng điện, tổ hợp nông công nghiệp, nghề cá, công nghiệp nhẹ, hoá chất, dược phẩm và thực phẩm, đóng mới và sửa chữa tầu, chế tạo máy, vận tải và thông tin, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, du lịch.

Từ 26 đến 28 tháng 3 năm 2002 Chủ tịch Chính phủ Liên bang Nga M. M. Kasiyanov thăm chính thức Hà Nội. Trong quá trình hội đàm với Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phan Văn Khải, toạ đàm với Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh và với Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã thảo luận tiến trình thực thi các thoả thuận đạt được trong chuyến thăm của V. V. Putin, trước hết trong lĩnh vực kinh tế-thương mại. Đã ký một loạt các hiệp định liên chính phủ và liên ngành, cụ thể là về hợp tác trong lĩnh vực sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình, khí tượng thuỷ văn, y tế, và y học  v.v.

Từ ngày 9 đến 13 tháng 10 năm 2002 Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đã thăm chính thức Moscva. Đã diễn ra các cuộc hội đàm với Tổng thống Nga V. V. Putin, các cuộc gặp với Chủ tịch Chính phủ M. M. Kasiyanov, Chủ tịch Đuma Quốc gia và Hội đồng Liên bang Quốc hội Liên bang, Thị trưởng Moscva Lujkov. Tổng bí thư cũng đã đến thăm Saint-Peterburg và đã gặp gỡ với Tỉnh trưởng Leningrad V. A. Yakovlev, đã thăm Viện kỹ thuật lâm nghiệp, nơi ông đã tốt nghiệp. Qua kết quả chuyến thăm đã ra thông cáo chung.

Ngày 17-19 tháng 5.2004 đã diễn ra chuyến thăm chính thức Nga của Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương, trong chuyến thăm Chủ tịch đã hội đàm với Tổng thống Nga V.V. Putin, Chủ tịch Chính phủ M.E. Fradkov và Chủ tịch Duma Quốc gia Quốc hội Liên bang B.V. Grưzlov. Chủ tịch đã tham dự diễn đàn doanh nghiệp Nga-Việt với sự có mặt của các nhà doanh nghiệp hai nước và đã thăm Viện hàn lâm khoa học Nga.

Việc trao đổi các đoàn đại biểu liên nghị viện cũng phát triển. Năm 1997 Chủ tịch Đuma Quốc gia G. N. Seleznev thăm chính thức Việt Nam. Tháng 1 năm 2003 đã diễn ra chuyến thăm Moscva của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Văn An. Tháng 9 năm 2004 Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Văn Yểu đã thăm Nga, tháng 11 năm 2004 đoàn đại biểu Duma Quốc gia Nga do Phó chủ tịch V.A. Kuptsov dẫn đầu đã thăm Việt Nam. Tháng 1 năm 2005 Chủ tịch Hội đồng Liên bang Quốc hội Liên bang Liên bang Nga S.M. Mironov đã thăm chính thức Việt Nam, trong chuyến thăm Chủ tịch đã tham dự khóa họp hàng năm lần thứ XIII của Diễn đàn nghị viện châu á-Thái bình dương tổ chức tại thành phố Hạ Long.

Các cuộc giao tiếp giữa hai bộ ngoại giao mang tính thường xuyên. Trong quá trình trao đổi các chuyến thăm của những người đứng đầu cơ quan đối ngoại (tháng 2 năm 2000 Bộ trưởng ngoại giao Nga I. S. Ivanov thăm Hà Nội và tháng 6 năm 2001 người đồng nhiệm Nguyễn Dy Niên đã đến Moscva), cũng như các guộc gặp gỡ thường xuyên trong khuôn khổ các chuyến thăm ở cấp cao và trong các hoạt động đa phương (trước hết trong khuôn khổ của ASEAN và APEC) đã khẳng định sự gần gũi về quan điểm giữa Nga và Việt Nam trong các vấn đề quốc tế then chốt.

Trong những năm gần đây các mối quan hệ đối tác ở cấp liên khu vực đang được đẩy mạnh, mà cơ sở pháp lý của nó là Hiệp định liên Chính phủ về các nguyên tắc cơ bản của sự hợp tác giữa các cơ quan chính quyền hành pháp của các chủ thể Liên bang Nga và các cơ quan chính quyền địa phương của CHXHCN Việt Nam (ký vào tháng 9 năm 2000).

Việt Nam là một đối tác kinh tế truyền thống và đầy triển vọng của Nga. Nhờ sự giúp đỡ kỹ thuật của Liên Xô tại CHXHCN Việt Nam đã xây dựng hơn 300 xí nghiệp trong các ngành công nghiệp khai thác mỏ, chế tạo máy, hoá chất và công nghiệp thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, giao thông, đã đưa vào vận hành các nhà máy nhiệt điện, thuỷ điện với tổng công suất trên 4 nghìn MW, trong đó nhà máy thuỷ điện lớn nhất Đông Nam á - Hoà Bình (1920 MW).

Kim ngạch hàng hóa song phương năm 2004 là 887,3 triệu USD. Hơn 75% là xuất khẩu Nga bao gồm chủ yếu là thép cán, Xăng dầu mỡ, máy móc và thiết bị, kỹ thuật ôtô và phân bón. Nhập khẩu từ Việt Nam thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ.

Lĩnh vực quan trọng nhất trong sự phối hợp hành động – hợp tác trong lĩnh vực tổ hợp nhiên liệu-năng lượng, trong đó công trình đã nhiều năm trở thành công trình chính yếu là Liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam “Vietsovpetro” (thành lập năm 1981, đối tác Nga-OAO ”Zarubejneft”) – một dự án đầu tư lớn nhất của Nga ở nước ngoài. Năm 2004 Liên doanh đã khai thác được 12,2 triệu tấn dầu  (chiếm hơn 60% tổng lượng khai thác “vàng đen” ở Việt Nam).

ở Việt Nam đã đăng ký được 45 dự án đầu tư của Nga với tổng số vốn 267,8 triệu USD (không tính đến các công trình liên quan đến lĩnh vực dầu khí). Những hướng hoạt động hiệu quả hơn cả của các dự án là - vận tải biển, công nghiệp kỹ thuật cao su, khai thác và chế biến hải sản, xuất-nhập khẩu.

Vai trò quan trọng trong việc tạo dựng các điều kiện chính trị, pháp lý và các điều kiện cần thiết khác để phát triển toàn bộ tổ hợp các mối quan hệ kinh tế song phương là Uỷ ban liên chính phủ Nga-Việt về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật. Tháng 12 năm 2002 tại Hà Nội và tháng 4 năm 2005 tại Moscva đã diễn ra các phiên họp lần thứ IX và lần thứ X. Trong giai đoạn giữa các phiên họp thường diễn ra các cuộc gặp của các đồng chủ tịch Uỷ ban liên chính phủ (cuộc gặp gần đây- vào tháng 2 năm 2004 tại Hà Nội) để xem xét việc thực thi các quyết định đã được thông qua.

Việc hợp tác khoa hoc-kỹ thuật Nga-Việt đang phát triển trong lĩnh vực rộng lớn với nhiều phương hướng, kể cả việc chuyển giao cho phía Việt Nam các kết quả công trình nghiên cứu khoa học và kết cấu thử nghiệm. Công trình chủ yếu trong lĩnh  vực này là Trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ hỗn hợp Nga-Việt (công nghệ sinh học, độ bền nhiệt đới của các thiết bị kỹ thuật quân sự và công trình, đề tài y học, sinh thái).

Năng động hơn cả trong các mối quan hệ nhân văn song phương là sự phối hợp hành động trong lĩnh vực giáo dục.  Hơn 30 nghìn công dân Việt nam, trong đó 3, 5 nghìn phó tiến sỹ và tiến sỹ khoa học đã nhận được đào tạo tại các trường đại học của Liên Xô và Nga. Hiện nay tại Nga có 1200 công dân Việt Nam đang học theo chế độ học bổng nhà nước, gần 2600 – trên cơ sở hợp đồng.

Các mối quan hệ Nga-Việt trong lĩnh vực văn hóa đang được mở rộng. Trong những năm gần đây tại Nga và Việt Nam đã tổ chức những Ngày văn hóa, những Ngày Moscva, những Ngày Hà Nội, Tuần lễ phim Nga, những buổi biểu diễn của một loạt các đoàn nghệ thuật, những cuộc triển lãm các tác phẩm nghệ thuật, ảnh chụp, tem thư bưu điện. Năm 2005 tại Hà nội dự kiến sẽ tổ chức những Ngày Moscva. Trung tâm khoa học và văn hóa Nga tại Hà Nội đã được khai trương chính thức vào tháng 9 năm 2003 và hoạt động của trung tâm này có một ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp hành động song phương trong lĩnh vực nhân văn.

Các bài viết khác

BACK TO TOP